Ca khúc Nơi đó tình yêu
ĐƯỜNG BÁC HỒ CỨU NƯỚC

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Mỹ (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:44' 08-04-2024
Dung lượng: 65.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Mỹ (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:44' 08-04-2024
Dung lượng: 65.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th viÖn Quèc gia
ViÖt Nam
Tr×nh Quang Phó
§êng B¸c Hå ®i cøu níc / Tr×nh Quang Phó tuyÓn
chän, b.s. - H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2015. - 676tr. ; 21cm
1. Hå ChÝ Minh, L·nh tô C¸ch m¹ng, chÝnh trÞ gia,
1890-1969, ViÖt Nam 2. LÞch sö 3. Ho¹t ®éng c¸ch m¹ng
959.704092 - dc23
CTH0317p-CIP
.
4
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng thế giới. Cả cuộc đời và
sự nghiệp của Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng,
vì độc lập và tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Sinh ra và lớn lên ở vùng đất giàu truyền thống cách mạng, sớm
được tiếp thu những tư tưởng yêu nước tiến bộ, Người đã bôn ba
khắp năm châu tìm con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.
Người đã sớm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng và phát triển
sáng tạo học thuyết cách mạng vô sản vào hoàn cảnh cụ thể của đất
nước ta, sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo
cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài
sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân ta, là tấm gương sáng để
nhân dân ta phấn đấu học tập và noi theo. Thực hiện Chỉ thị số
06-CT/TW ngày 7-11-2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tổ
chức Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh và Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp
tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,
trong những năm qua, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức
của Bác đã trở thành một phong trào sâu rộng trong toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân ta, đạt hiệu quả tích cực và đóng góp thiết thực đối
với công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
5
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Cuốn sách Đường Bác Hồ đi cứu nước được GS.TS. Trình Quang
Phú tuyển chọn và biên soạn từ nhiều tác phẩm và bài báo viết về
Chủ tịch Hồ Chí Minh được kết cấu thành hai phần:
Phần I: Đường Bác Hồ đi cứu nước khái quát những sự kiện về
gia đình, tuổi thơ của Bác, con đường Bác bôn ba khắp năm châu
để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường giải phóng
cho dân tộc khỏi ách nô lệ, sáng lập Đảng ta và lãnh đạo nhân dân
ta giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Phần II: Theo Bác đi kháng chiến trình bày những sự kiện chính
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự
lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trong tình thế
"ngàn cân treo sợi tóc" vô cùng khó khăn của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa non trẻ vừa mới được thành lập trước vòng vây của các
nước đế quốc, thực dân và sự chống phá của các thế lực thù địch.
Nội dung cuốn sách gồm nhiều câu chuyện có khi được tác giả kể
lại, có khi được kể lại bởi chính người trong cuộc với những tình cảm
rất chân thành, sâu sắc, những kỷ niệm không thể nào quên, nhờ đó
Bác Hồ của chúng ta thật gần gũi, giản dị và thân thiết như vị Cha già
của dân tộc nhưng cũng là vị lãnh tụ thật lớn lao, vĩ đại khiến cả kẻ
thù phải kính phục. Ngôn từ của cuốn sách giản dị, câu chuyện hấp
dẫn, gần gũi, nội dung sâu sắc, cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá
trị thiết thực để bạn đọc tiếp tục tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và tư
tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong quá trình biên soạn,
với nguồn tư liệu hết sức phong phú viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh,
cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được ý
kiến góp ý của bạn đọc để cuốn sách hoàn thiện hơn.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
LỜI GIỚI THIỆU
CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
Tác phẩm "Đường Bác Hồ đi cứu nước"
là một công trình sưu tập, biên soạn công phu.
Tôi hoan nghênh Tiến sĩ Trình Quang Phú đã có
nhiều cố gắng tuyển chọn và biên soạn thành
công tác phẩm này.
Mong quyển sách "Đường Bác Hồ đi cứu
nước" sẽ góp thêm với bạn đọc, nhất là các bạn trẻ
những tư liệu quý về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hà Nội, Mùa Thu 2002.
Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
7
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
8
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
HÀNH TRANG
RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
CỦA BÁC HỒ*
PHẠM VĂN ĐỒNG
H
ồ Chí Minh là người suốt đời phấn đấu vì một lý
tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu
nước (5-6-1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên
cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2-9-1969), đưa
đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với con người Hồ
Chí Minh, là biểu tượng, tấm gương sáng, niềm tự hào
của các thế hệ Việt Nam không ngừng đoàn kết phấn đấu
thực hiện nguyện vọng thiết tha của cộng đồng dân tộc
thời vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh.
Tôi bắt đầu cuốn sách về tư tưởng Hồ Chí Minh bằng
cách đặt câu hỏi Hồ Chí Minh là ai lúc ra đi tìm đường
cứu nước?
__________
* Trích Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ
Chí Minh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1998.
9
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Nhiều người đã viết về đề tài này, ở đây tôi chỉ chú ý
mấy nét để trả lời câu hỏi vừa được nêu lên.
Nói về hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi thì phải
thấy rõ hoàn cảnh gia đình của Hồ Chí Minh, đồng thời phải
thấy quê hương của Hồ Chí Minh là tỉnh Nghệ An, từ đó mà
thấy một cách đậm nét dấu ấn của gia đình, quê hương, Tổ
quốc và dân tộc đối với Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí
Minh sau này. Hồ Chí Minh đặc biệt thích thú và quý trọng
truyền thống xa xưa của dân tộc, thể hiện một cách giàu đẹp
trong lời ăn tiếng nói, trong phong tục tập quán, trong tình
làng nghĩa xóm, việc nước gắn với việc nhà: "Một cây làm
chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao", một câu ca
dao đậm tính trữ tình cũng như khí phách hùng tráng của
dân tộc, đúng là "muôn thuở giang sơn này".
Tôi nhấn mạnh những điểm trên bởi lẽ những giá trị
văn hóa ngày càng ăn sâu vào con người, tư duy và
phong cách của Hồ Chí Minh trong suốt đời hoạt động
của mình trải qua biết bao biến đổi và sóng gió.
Như mọi người đều biết, Hồ Chí Minh sinh trưởng trong
một gia đình trí thức nho giáo, ông bố tuy đậu Phó bảng
nhưng không đi theo con đường làm quan như thói thường
mà luôn luôn ôm ấp tư tưởng về vận mệnh của đất nước, của
dân, chuyên tâm nuôi dạy các con theo chí hướng lớn.
Quê hương của Hồ Chí Minh là tỉnh Nghệ An giàu
truyền thống phấn đấu kiên cường vì sự nghiệp của nước,
của dân. Quê hương bên nội ở làng Sen, bên ngoại ở làng
Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, đã ghi những dấu ấn sâu
sắc trong tâm trí Hồ Chí Minh ngay từ tuổi thơ ấu.
Huế, kinh đô triều Nguyễn lúc bấy giờ, cũng là một
môi trường đã có những ảnh hưởng tốt đẹp đối với tuổi
thiếu niên của Nguyễn Tất Thành.
10
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
Phải nói thêm rằng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã
tận dụng mọi cơ hội để đưa các con đi làm quen với nhiều
nơi trên đất nước ta, đó cũng là cơ hội tiếp xúc với nhiều
nhân vật yêu nước thời bấy giờ.
Tất cả những điều kể trên dần dần đã làm chín muồi
trong tư tưởng và tình cảm của người thanh niên Nguyễn
Tất Thành mong muốn mãnh liệt đi tìm con đường cứu
nước, cứu dân, nhất định không thể sống cuộc đời mất
nước, mất độc lập, tự do. Đó cũng là ý nguyện chung của
toàn thể dân tộc và của mỗi người Việt Nam lúc bấy giờ.
Nhưng đi đâu? Đi hướng nào? Đi tìm cái gì? Đây cũng là
những day dứt, trăn trở trong tâm hồn của người thanh
niên yêu nước tuổi đôi mươi. Lúc nhỏ ở quê nhà cũng như
lúc học ở Huế, Nguyễn Tất Thành biết khá rõ phong trào
Cần Vương, Đông Du, cuộc vận động Đông Kinh Nghĩa
Thục, phong trào khởi nghĩa ở nhiều nơi... Người thanh
niên Nguyễn Tất Thành với sự nhạy cảm và sự sáng suốt lạ
lùng dần dần thấy rõ tất cả những xu hướng cứu nước thời
ấy đều không đem lại và không thể đem lại kết quả mong
muốn. Sự thật ngày nay chứng minh điều đó. Vậy phải đi
tìm con đường khác để tới những chân trời mới. Một điều
rất có ý nghĩa là lúc Nguyễn Tất Thành thấy cụm từ tự do,
bình đẳng, bác ái, thì cậu muốn biết đằng sau nó có cái gì!
Đương nhiên lúc bấy giờ Nguyễn Tất Thành không thể đọc
hoặc được nghe nói về những tư tưởng lớn của phương
Tây. Vậy thì con đường là đi đến phương Tây đầy bí ẩn với
tất cả những triển vọng chưa lường hết được. Sự nghiệp
của Hồ Chí Minh bắt đầu từ đây. Vận mệnh lớn của nước,
của dân gắn bó mật thiết với một quyết định mà lịch sử đã
chứng minh là sáng suốt phi thường.
11
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Từ cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên đường
theo hướng đã định. Chúng ta thử xem hành trang lúc
bấy giờ của Nguyễn Tất Thành có gì? Đó là truyền thống
lịch sử 4.000 năm với sức sống mãnh liệt của một dân tộc,
kiên trì phấn đấu vượt khó khăn gian khổ, bảo toàn và
phát triển bản lĩnh quý báu của mình; truyền thống đoàn
kết đấu tranh dựng nước và giữ nước, không ngừng vun
đắp sức mạnh của cộng đồng, một lòng tương thân tương
ái, cũng như bồi dưỡng nền văn hiến, từ đó mà không
ngừng phát triển bản lĩnh dân tộc, sức sống dân tộc, tình
cảm dân tộc. Cùng với truyền thống tư tưởng và bản sắc
văn hóa Việt Nam, trong hành trang của Nguyễn Tất
Thành lúc rời Việt Nam ra đi còn có những thành quả tư
tưởng của phương Đông, nhất là của hai nền văn hóa lớn
Trung Quốc và Ấn Độ, qua nhiều thế kỷ giao lưu phần
nào đã hội nhập vào văn hóa Việt Nam, và được Nguyễn
Tất Thành tiếp thu qua giáo dục của gia đình, của nhà
trường và cuộc sống xã hội. Đồng thời trong hành trang
này còn phải đặc biệt nhấn mạnh những khát vọng lớn,
những hoài bão lớn của Nguyễn Tất Thành về tương lai
Tổ quốc và dân tộc, là đánh đổ chế độ áp bức, bóc lột thực
dân và phong kiến vươn lên xây dựng đất nước, xây dựng
xã hội, xây dựng con người tự do, hạnh phúc và văn
minh. Toàn bộ hành trang quý báu đó là lẽ sống, là nội
tâm, là niềm tự hào và tự tin, là sức mạnh tinh thần kỳ
diệu của người thanh niên yêu nước trên con đường chưa
thấy bờ bến của mình. Nguyễn Tất Thành rất khôn ngoan
khi chọn cái nghề làm bếp trên tàu để có việc làm và cuộc
sống hàng ngày, đồng thời để có cơ hội chu du thiên hạ,
đi Pháp, đi các nước châu Á, châu Phi, Mỹ latinh, dừng
12
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
chân ít lâu tại nước Mỹ và nước Anh để rồi về lại nước
Pháp. Tại đây một cái tên mới xuất hiện.
Nguyễn Ái Quốc gửi bản "Yêu sách của nhân dân An
Nam" đến Tổng thống Mỹ và trưởng đoàn các nước dự
Hội nghị Vécxây. Tôi không thể không trích một đoạn có
ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong bản yêu sách nói trên:
"Từ ngày đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ
thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết
chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc đồng minh
tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của văn
minh chống dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và
chính nghĩa nhất định là phải đến với họ". Tiếp theo câu
nói trên, Nguyễn Ái Quốc đòi các đại biểu dự hội nghị
thừa nhận quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc,
trong đó có dân tộc Việt Nam. Cuộc vận động này của
Nguyễn Ái Quốc có tiếng vang ở châu Âu và gây dư luận
rộng rãi ở Đông Dương, nhất là ở Việt Nam, lúc bấy giờ.
Bức thư gửi Hội nghị quốc tế Vécxây chỉ là một hoạt
động bên lề của Nguyễn Ái Quốc, bởi mục tiêu của Nguyễn
Ái Quốc là tiếp tục đi tìm con đường cứu nước, cứu dân.
Theo hướng này, Nguyễn Ái Quốc có những hoạt động đa
dạng và phong phú ở Pari, tiếp xúc rộng rãi với các đảng phái
chính trị của nước Pháp và các nhóm chính trị khác nhau của
người Việt Nam. Sau cuộc hành trình mấy năm trời qua
nhiều châu lục, Nguyễn Ái Quốc có cơ hội vũ trang cho mình
những hiểu biết mới về các dân tộc bị áp bức ở rất nhiều nơi
trên thế giới, những hiểu biết về các nước tư bản chủ nghĩa
phương Tây: Cái gì ở dưới chân tượng Nữ thần tự do tại Nữu
Ước! Cái gì đằng sau cụm từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái! Đồng
thời Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian tìm hiểu và suy nghĩ về
13
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
những tư tưởng lớn của các bậc hiền triết cổ kim Đông Tây,
làm giàu thêm tư duy của mình.
Giờ đây, trở lại hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi,
tôi thấy cần làm nổi bật biết bao những hiểu biết mới lạ làm
giàu thêm hành trang ấy từ phương Đông sang phương
Tây, từ các dân tộc bị áp bức đến các nước tư bản chủ nghĩa
phát triển nhất, từ các nền văn minh cổ xưa đến các nền văn
minh hiện đại lúc bấy giờ. Một điều nữa tôi phải đặc biệt
nhấn mạnh là những hoài bão, những mong muốn lúc ra đi
đã trải qua một quá trình biến đổi sâu sắc và đó là những
hoài bão mới, những đòi hỏi mới cần được thỏa mãn.
Từ đó chúng ta có thể hình dung được cái quý mà Hồ
Chí Minh đang tìm phải có tầm vóc cao sâu đến mức nào. Lạ
lùng thay, Hồ Chí Minh đã tìm được cái mình mong muốn,
và đây là sự gặp gỡ hầu như có duyên nợ lịch sử. Chính lúc
bấy giờ là lúc Hồ Chí Minh có cơ hội đọc Luận cương của
Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trình bày ở Đại hội lần thứ II
của Quốc tế Cộng sản năm 1920. Sau khi đọc luận cương
này, Nguyễn Ái Quốc đã thốt lên câu nói nổi tiếng: "Đây là
cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng
chúng ta", thể hiện niềm sung sướng không sao diễn tả hết.
Thấy những điều ấp ủ của Nguyễn Tất Thành thì dễ hiểu
được tâm trạng của Nguyễn Ái Quốc khi đọc Luận cương
của Lênin. Luận cương ấy đưa đến việc Nguyễn Ái Quốc
dày công nghiên cứu học thuyết Mác - Lênin, cố gắng tìm ở
đấy cái gì mình thiết tha nhất.
14
PhÇn I
§êng b¸c hå ®i cøu níc
15
16
I
T
heo gia phả họ Nguyễn Sinh ở làng Sen cách
đây 400 năm, ông Nguyễn Bá Phổ - vị khởi
thủy dòng họ Nguyễn Sinh đã đến lập nghiệp ở vùng quê
Kim Liên. Việc đổi chữ lót Nguyễn Sinh thay cho Nguyễn
Bá diễn ra từ thế hệ thứ năm. Cũng là thời kỳ xuất hiện
nhiều nhân tài đỗ đạt trong dòng họ. Đến ông Nguyễn
Sinh Nhậm thì gia cảnh vào loại khá giả trong vùng. Ông
lấy người vợ đầu, sinh được người con trai thì bà mất.
Ông ở vậy nuôi con đến tuổi thành niên, lo vợ cho con
xong ông mới lấy vợ kế, đó là bà Hà Thị Hy và sinh con
trai, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Được ba tuổi thì bà Hy
mất, một năm sau ông Nhậm cũng qua đời. Mồ côi cả cha
lẫn mẹ, Nguyễn Sinh Sắc tới sống với người anh cùng cha
khác mẹ là Nguyễn Sinh Trợ, đang lúc cảnh nhà sa sút.
Nguyễn Sinh Sắc phải đi giữ trâu kiếm sống. Nhiều lần
Sinh Sắc ấm ức không được cùng bạn bè trong làng tới
trường học. Không nhịn được lòng ham muốn, nhiều lần
Sinh Sắc đã buộc trâu để học lén. Sẵn tư chất thông minh,
chỉ nghe lén, học lỏm mà cũng "ra trò". Càng biết ra,
Nguyễn Sinh Sắc càng ham học. Lưng trâu đã thành bàn
học. Cậu mê mải sách quên cả việc đưa trâu đi ăn. Cả làng
ai cũng quý cậu bé ham học. Ông đồ Hoàng Đường từ
làng bên, tức Hoàng Trù thường ghé Nam Liên thăm bạn,
17
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
vốn học cùng khóa với cụ Nguyễn Sinh Nhậm ngày trước,
bao lần bắt gặp Sinh Sắc học trên lưng trâu, ông cũng nghe
nhiều lời khen cậu bé thông minh và ham học nên càng quý
cậu bé hơn.
Tết Nhâm Dần (1878), làng Nam Liên mở hội xuân
nô nức tưng bừng. Tiếng trống thúc, tiếng loa kêu râm
ran náo động lòng người. Trai gái, trẻ già khắp mấy làng
đều háo hức tụ hội vui Xuân. Trên đường đi dự hội, ông
Hoàng Đường lại gặp cậu bé bình thản ngồi lưng trâu đọc
sách nên ông đã đến gặp Nguyễn Sinh Trợ xin đưa
Nguyễn Sinh Sắc về nuôi cho ăn học hẳn hoi.
Chỉ hai năm sau, ông Hoàng Đường cảm thấy học vấn
của cậu học sinh đặc biệt này chẳng thua kém gì mình
mấy. Ông liền gửi Sinh Sắc đi xa 30 cây số tới học ông đồ
giỏi nhất vùng. Đó là thầy đồ Nguyễn Thức Tự vừa nổi
tiếng hay chữ lại là nhà yêu nước nhiệt thành nên được
dân trong vùng rất quý trọng. Như được chắp cánh, ba
năm sau, Sinh Sắc được gọi là một trong hai thần đồng về
văn tài trong xứ.
Sinh Sắc đến tuổi thành niên. Ông Hoàng Đường tính
chuyện kết duyên giữa Sinh Sắc với con gái đầu lòng của
mình là Hoàng Thị Loan. Cô gái cũng như ông bố quý
mến người con trai có tài, có chí lại có đức. Song sự việc
không suôn sẻ ngay vì cụ bà Hoàng Thị Kép cũng như
phía họ hàng bên ngoại không gạt bỏ được ấn tượng cậu
là đứa trẻ mồ côi đi ở đợ. Nay cho sánh duyên với con gái
thầy đồ họ Hoàng thì không môn đăng hộ đối.
18
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Phải qua thời gian để minh định và thuyết phục, năm
1883, ông bà họ Hoàng đã đứng ra tổ chức lễ cưới và dựng
cho đôi vợ chồng trẻ chỗ ở riêng ngay trong vườn nhà. Đó là
căn nhà tranh ba gian ở làng Hoàng Trù quê ngoại.
Năm 1884 ông bà sinh con gái đầu lòng đặt tên là
Nguyễn Thị Thanh. Sau này trong hoạt động chống Pháp,
đồng đội gọi bà là cô Bạch Liên. Bà là một chiến sĩ kiên
trung, bất khuất mà kẻ thù rất nể sợ.
Năm 1888, người con thứ hai ra đời, mang tên là
Nguyễn Sinh Khiêm, sau đổi là Nguyễn Tất Đạt, cũng là
một chiến sĩ yêu nước bị thực dân và Nam Triều nhiều lần
bỏ tù, phát vãng đến quản thúc.
Năm 1890 Nguyễn Sinh Cung chào đời. Đó là Nguyễn
Tất Thành, là Nguyễn Ái Quốc, là Chủ tịch Hồ Chí Minh
của chúng ta.
*
*
*
Sống trong cảnh túng thiếu, nhìn vợ tất bật với hoàn
cảnh khó khăn, nhiều lúc Nguyễn Sinh Sắc muốn lui về
cày ruộng, chung sức cùng vợ nuôi con nhưng mọi
người đều không chịu. Họ hàng nội ngoại nhà bà
Hoàng Thị Loan đều ủy thác ông phải đeo đuổi học tập.
Đến năm 1894 ông đậu Cử nhân trong khoa thi Hương
Giáp Ngọ. Ông chỉ ân hận là đã không đỗ đạt sớm hơn
để kịp báo hiếu công ơn cụ Hoàng Đường đã nuôi dạy
mình từ tuổi lên năm. Cụ đã mất ngày 7 tháng 4 năm
19
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Quý Tỵ (1893), do vậy, niềm vui của ông không trọn
vẹn. Sau buổi ra mắt quan tổng đốc An Tịnh, ông đã
tránh không dự buổi tiệc thịnh soạn đàn ca thâu đêm do
quan tổng đốc khao các vị tân khoa mà lui về nghỉ tại
nhà người bà con cụ Hoàng Đường sống tại tỉnh lỵ.
Sáng hôm sau tân khoa Nguyễn Sinh Sắc cắp mũ áo cử
nhân, đội dù, cuốc bộ về quê, không khoa trương danh
vị, cũng không tổ chức hội mừng mà chỉ làm lễ bái yết ở
nhà thờ, làm bà mẹ vợ bán tín bán nghi về chuyện ông
thi đỗ. Hàng xã thì tấm tắc khen ông cử tài cao mà
khiêm tốn, giản dị.
Năm 1895, ông vào Huế dự kỳ thi Hội nhưng không
đậu. Để tiếp tục học ở Quốc Tử Giám, ông bàn với bà
Hoàng Thị Loan thu xếp cùng vào. Bà đã gửi con gái đầu
lòng ở lại với bà ngoại Hoàng Thị Kép, đưa hai con trai
theo chồng vào Huế. Tại đây gia đình ông cử nhân nghèo
xứ Nghệ sống quá túng thiếu. Cứ hết buổi đi học ông lại
cắp dù đi dạy kèm con cái nhà khá giả. Bà miệt mài với cái
khung cửi, lấy công làm lãi nuôi chồng con. Như bao
nhiêu ông đồ Nghệ khác, họ phải chịu đựng với cảnh
nghèo, nai lưng ra lao động ngày đêm để giữ lấy nếp
thanh khiết, nho nhã.
Cuộc sống lo toan, vất vả nhanh chóng làm bà Hoàng
Thị Loan kiệt sức. Sau khi sinh con thứ tư, bà đau ốm liên
miên, lại là đúng vào thời kỳ ông Sinh Sắc đi chấm thi ở
trường thi Thanh Hóa rồi ghé về quê lo phần mộ cho bố
mẹ. Thấy gia đình quá khó khăn, ông mang Sinh Khiêm
20
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
theo. Ở nhà bà Loan đã từ giã cõi đời vừa lúc bước sang
tuổi ba mươi ba. Bà con láng giềng ở thành Nội đã mai
táng bà ở chân núi Ba Tầng thuộc dãy Ngự Bình. Còn lại
Sinh Cung lo bế ẵm em trai và sống qua ngày trong sự
thương yêu đùm bọc của hàng xóm.
Giữa Tết Tân Sửu (1901) đang ở Hoàng Trù, nhận
được tin dữ, ông Sắc vô cùng đau đớn vội vàng một mình
vào Huế. Sau những ngày đau buồn vĩnh biệt người vợ
thân yêu, ông đưa hai anh em Sinh Cung về quê để nhờ
bên ngoại trông nom giúp rồi trở lại Huế cho kịp kỳ thi
Hội khoa Tân Sửu (1901). Khoa này ông đậu Phó bảng.
Kể từ khoa Tân Sửu, người đậu Phó bảng bắt đầu
được hưởng hai đặc ân của chính bảng: được vua ban cờ
biển và cho vinh quy bái tổ. Trong lễ xướng danh, ông
Nguyễn Sinh Sắc được vua Thành Thái tặng biển "Ân Tứ
Ninh Gia" (Ơn ban cho gia đình tốt) và cấp phương tiện
đưa về đến tỉnh lỵ An Tịnh (Vinh). Tổng đốc An Tịnh lúc
đó là Đào Tấn đã ra lệnh cho lý trưởng các làng thuộc xã
Chung Cự đưa võng lọng cờ trống lên rước ông Phó bảng.
Đây là vinh dự cực kỳ lớn với nho sinh thành đạt, trong
thiên hạ ai không ham.
Nhưng ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - như ngày
nào đậu cử nhân, sau buổi lễ ra mắt Tổng đốc địa hạt, ông
lại tự đi bộ về làng. Về cách Hoàng Trù bốn cây số, gặp
dân xã đang náo nức kéo nhau đi rước ông. Mọi người vội
trống giong cờ mở, giăng võng mời ông nằm lên cho làng
rước. Ông từ tốn thưa: "Thưa bà con, tôi chưa làm được gì
21
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
cho làng cả, sao dám phiền bà con đón rước!". Dù bà con
năn nỉ, ông một mực từ chối. Cuối cùng cả đoàn cùng đi
bộ theo ông Phó bảng trở về làng. Ông ghé về quê ngoại
làm lễ tạ ơn rồi mới sang chào làng bên nội.
Đây cũng là lần đầu tiên Kim Liên có người đỗ đại
khoa. Tục lệ ngày đó đã đỗ đại khoa mà đi ở rể là không
được. Dân làng mới cắt một miếng đất năm sào Trung Bộ,
dựng hàng rào và trích tiền công của làng mua một ngôi
nhà tranh bên Xuân La. Dân làng cùng nhau khiêng về
dựng làm chỗ ở cho ông Phó bảng. Bố con ông quay về
quê nội, sống trong căn nhà lá ba gian đó.
Ngôi nhà này không còn giữ được đến ngày nước nhà
độc lập, sau này đã được chuộc lại và đem về dựng trên
nền nhà cũ, theo khuôn mẫu ngôi nhà xưa. Hôm về thăm
làng Sen lần đầu (1957), Bác đã phát hiện ra lối vào nhà đã
mở sai hướng, Bác đã chỉ cho những người cùng đi:
- Lối đi ngày trước ở bên này! Xưa cha tôi trồng một
bên là hàng cây mạn hảo, một bên là hàng cây râm bụt.
Sau đó, địa phương đã mở lại cổng, làm lại hàng rào
và lối đi hiện nay đã đúng như sự hướng dẫn của Bác.
Gian đầu có bàn thờ với biển phong tặng "Ân Tứ Ninh
Gia" của nhà vua khi ông Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng
và lá cờ của dân làng tặng, đề bốn chữ "Phó bảng Phát
Khoa". Sau khi cụ Sinh Sắc qua đời, dòng họ Nguyễn Sinh
đưa lá cờ này vào nhà thờ họ. Năm 1957 Bác về thăm quê
có ghé vào nhà thờ, Bác vui mừng nói:
22
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
- Lá cờ làng tặng cha tôi vẫn còn! Các ông giữ tài thật.
Bác vào gian cuối gần bếp - ở đây đặt một bộ ván bốn
tấm ghép lại. Chiếc bàn con kê sát cửa sổ và chiếc võng
đay đã cũ treo chéo hai cột. Cái sập đựng lúa và tủ chè kê
sát vách. Cây cột gần đó có treo cây đèn đĩa. Sát đấy là cái
án thư bằng tre. Nhìn bộ ván, Bác bảo:
- So với trước, bộ ván này bị cưa ngắn đi rồi.
Hai lần về thăm quê, lần nào Bác cũng lẳng lặng đi lên
đi xuống ba gian nhà lá. Quá khứ, những kỷ niệm thân
thương đang làm Bác bồn chồn. Những người có mặt lúc
đó cũng chìm lắng trong tâm trạng của Bác. Kỷ vật như
thiêng liêng hơn. Tất cả không còn là tre, là gỗ, là vật
dụng mà là bóng dáng của cả một gia đình, mọi cái thấm
đượm tâm hồn, tình cảm gắn bó ruột thịt với Bác, làm xúc
động lòng người.
Bác đó, ông già giản dị như mọi người già, gần gũi
như mọi bậc ông, bậc cha, thân mật chuyện trò việc làng
việc nước, những nỗi quan tâm của mọi gia đình. Vị Chủ
tịch nước đã hóa thân thành một người làng thân thiết của
cả già, trẻ, gái, trai.
Bác đó, đang nhắc lại từng kỷ niệm thời thơ ấu với
bạn bè.
Bác đó, niềm tin, lòng hy vọng của mỗi người, của
mọi người, của bạn bè gần xa. Bằng giọng làng Sen thân
thuộc, Bác nói:
- Tôi xa quê hương, xa các cụ, các mẹ, các chú như vậy là
đã năm mươi ba năm. Thường tình đi xa như vậy khi trở về,
23
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
người ta hay mừng mừng tủi tủi. Riêng tôi thì không tủi mà
chỉ mừng. Vì khi tôi ra đi, nước ta đang bị thực dân cai trị,
đồng bào ta đều là những người nô lệ. Nay tôi trở về thì đồng
bào đã là những công dân tự do làm chủ nước nhà.
Quê hương nghĩa nặng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.
*
*
*
Bác ra đời ở làng Hoàng Trù, lên năm tuổi đã phải
theo bố mẹ cùng anh trai vào Huế. Đến ngày mẹ qua đời,
Bác mười một tuổi theo cha trở về quê và sống tuổi thiếu
niên tại làng Sen được 5 năm.
Ông Sắc sau khi đỗ Phó bảng đã lấy cớ cần chữa bệnh
để chậm nhậm chức, nấn ná lại quê được 5 năm (1901 1906). Ông rất quan tâm đến việc học của con cái. Ông cho
con trai tới học với cử nhân Vương Thúc Quý - con ông tú
tài Vương Thúc Mậu, lãnh tụ Cần Vương chống Pháp ở
vùng núi Chung.
Ông đã từng viết lên xà nhà mấy chữ: "Vật dĩ quan gia,
vi ngô phong dạng" (Đừng lấy phong cách nhà quan làm
phong cách nhà mình), để răn dạy con.
Là một đại khoa, nhưng làm quan với ông là đem
thân làm nô lệ.
Còn được lưu lại quê, ông Sinh Sắc không để lỡ dịp.
Ông đi Võ Liệt theo lời mời của nhân dân trên đó lên mở
trường, dạy học và ông luôn nhắc: Việc học là cần để hiểu
đạo lý làm người. Không nên chỉ học để làm quan.
24
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Sau đó ông chuyển sang dạy ở Đức Thọ (Hà Tĩnh),
đến làng Đông Thái, quê hương của cụ Phan Đình Phùng,
tiếp xúc với các nhân sĩ yêu nước của vùng Hà Tĩnh... Ông
ra Diễn Châu thăm Tán tương quân vụ trong cuộc khởi
nghĩa của cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn, đi Yên Thành,
Quỳnh Lưu và ra tận Thái Bình tiếp xúc với sĩ phu Bắc
Hà. Ông Sắc là bạn thân của Phan Bội Châu, cùng là sĩ
phu yêu nước chống Pháp nhưng ông Sắc không hưởng
ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu.
Trong gia đình, Nguyễn Sinh Cung là người được bố
đặt nhiều hy vọng. Khi đi đây đi đó, bố thường cho cậu đi
cùng. Nhờ vậy cậu có mặt trong các cuộc đàm đạo của bố,
mọi lời nói, việc làm, cử chỉ của các bậc sĩ phu yêu nước
đều tác động mạnh tới cậu.
Bà Anna Luidơ Stenson có kể lại trong một lần gặp
Bác, Bác có kể chuyện với bà:
"Hồi ấy các cụ nhà nho yêu nước, trong đó có thân sinh tôi
thường hỏi nhau:
- Ai cứu nước ta bây giờ?
Có người nói Nhật. Có người nói Anh, có người nói Mỹ,
khi đó Nhật là nước mạnh ở châu Á, còn Anh, Mỹ đều là cách
mạng dân quyền. Còn tôi...".
Những chuyến đi đây đó và những cuộc gặp gỡ mà
ông Phó bảng thường mang Nguyễn Sinh Cung đi theo đã
đưa Bác vào thời cuộc. Tuổi mười bốn, mười lăm Nguyễn
Sinh Cung chứng kiến rất nhiều cảnh sống đầy đọa của
nhân dân. Mạng sống con người bị bọn thống trị coi như
25
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
sâu bọ. Phu phen tạp dịch tàn phá từng gia đình, từng
làng xóm, gieo tang tóc, ly tán khắp nơi. Ảnh hưởng tư
tưởng của cha, kết hợp sự nhạy cảm chính trị của bản
thân, Nguyễn Sinh Cung đã từ chối con đường Đông Du
ngay khi cụ Phan Bội Châu muốn đưa cậu sang Nhật Bản
hồi tháng 7-1905.
Khi nghe ở nước Pháp đang rộ lên ba mục tiêu của
cuộc cách mạng tư sản Pháp (Tự do - Bình đẳng - Bác ái),
Bác suy nghĩ nhiều và muốn biết rõ bản chất vấn đề.
Những điều Bác thấy bọn thực dân đang làm hàng ngày
thì hoàn toàn ngược lại. Sự mâu thuẫn đó thôi thúc Bác
muốn tiếp xúc với nền văn minh Pháp để khám phá ra
sự thật. Trên tạp chí Ngọn lửa nhỏ (Liên Xô) số 39 ngày
23-12-1923, nhà thơ O.E.Mandelstam trong bài báo "Đến
thăm chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc" đã ghi
lại lời Bác nói với ông như sau: "Vào trạc tuổi 13, lần đầu
tiên, tôi được nghe những từ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.
Thế là tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, tìm xem
những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy... Tôi quyết định ra đi
từ năm 19 tuổi...".
*
*
*
Một làng quê như mọi làng quê của đất Lam Hồng,
không khang trang, không trù phú, di tích Kim Liên gắn
chặt với đời thường như dân làng Kim Liên.
26
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Con đường vào nhà quê nội ở làng Sen bốn mùa điểm
hoa râm bụt như chào mừng khách thập phương. Cây ổi đỏ
ruột cao hơn hai thước rẽ ba, sà xuống sân nhà chan hòa cùng
bưởi, thanh trà như trang trí cảnh đón khách. Mấy khóm huệ,
vài khóm cúc, lay ơn đung đưa trước gió tỏa hương sắc.
Phía sau là hàng cau thon thả tỏa tán lá tròn xoe trải
dài trên con đường như tươi xanh. Từ khóm tre, khóm si
quanh vườn rộn ràng tiếng hót của chào mào, vành
khuyên, chích chòe. Lại tiếng gà mẹ tục tục gọi con, tiếng
thập thình chày giã gạo. Và những mái rơm ẩn hiện
những sợi khói lam mảnh mai, quyến luyến trên ngôi nhà
bảo tàng thiêng liêng. Thật là đặc biệt! Một nhà sử học
người Anh đã thú vị ghi lại: "Đến Kim Liên tôi càng thấy
lạ hơn. Tôi chưa từng thấy một nhà bảo tàng nào lại được
nghe tiếng gà gáy, tiếng chim ca, được thấy trẻ em đi học
chật đường...". Ông mệnh danh đây là loại bảo tàng mới:
Bảo tàng mở với đời sống, khác với khái niệm bảo tàng
xưa nay là di tích, dư âm của đời sống đã trôi qua được
giữ lại. Bảo tàng Kim Liên chan hòa với hiện tại, không
cách biệt với cuộc sống đang diễn ra hàng giờ, cũng như
mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: "Tôi
chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho đất
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng
bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành"*. Hoài
__________
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2011, t.15, tr.627.
27
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
bão của Bác đích thực là hoài bão của mỗi người dân, của
mỗi con người Việt Nam bình thường.
Cụm di tích Kim Liên hiện nay mở rộng đến ngọn Động
Tranh Thấp trên núi Đại Huệ ở độ cao 100m. Năm 1983,
Khu mộ bà Hoàng Thị Loan đã được xây khang trang ở đó.
Bà Hoàng Thị Loan mất năm 1901 tại Huế. Thi hài
được táng ở chân núi Ba Tầng bên dòng sông Hương.
Năm 1922, cô Nguyễn Thị Thanh con gái của bà, một
chiến sĩ yêu nước chống thực dân Pháp bị cầm tù ở Quảng
Ngãi được đưa ra an trí ở Huế. Đến ngày được thả, cô đã
tìm cách đưa hài cốt của mẹ về quê yên nghỉ ngay trong
khu vườn nhà. Đến năm 1942, người con trai lớn Nguyễn
Sinh Khiêm, sau khi thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về
quê đã đi tìm nơi cát táng cho mẹ. Đó là vị trí Động Tranh
(trong dãy Đại Huệ) hiện nay.
Từ Động Tranh nhìn về phía nam là cả dãy Thiên
Nhẫn ngàn đỉnh trùng trùng. Ở đó còn dấu tích thành
Lục Niên Lê Lợi dựng năm 1424 trong cuộc kháng
chiến chống quân Minh xâm lược; có miếu thờ La sơn
Phu tử Nguyễn Thiếp đệ nhất danh sĩ thời Tây Sơn ở
núi Bùi Phong.
Phía bên này sông Lam là núi Dũng Quyết, một tiền đồn
của quân nhà Trịnh, có thành Phượng Hoàng Trung Đô thời
vua Quang Trung.
Nhìn về phía tây là núi Đụn (Hùng Sơn) như bức bình
phong án ngữ, còn dấu tích thành Vạn ao do Mai Thúc
Loan xây cất từ năm 722 chống quân xâm lược nhà Đường.
28
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Nhìn về phía tây bắc là bạt ngàn dãy núi Đại Vạc, Đại
Huệ nơi có thành quách Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương
chống quân xâm lược phương Bắc.
Xa xa, phía đông nam là núi Lam Thành, nơi
Nguyễn Biểu, một danh thần Hậu Trần đã chứng minh
khí phách dân Nam trước trướng xâm lược phương Bắc.
Gần hơn là dãy Độc Lôi, Đại Hải, ở đó có mộ tổ Quang
Trung - Nguyễn Huệ.
II
N
ăm 1896, cụ thân sinh của Nguyễn Sinh Cung đậu
cử nhân và được vào học ở trường Quốc Tử Giám.
Cụ gửi người con gái lớn lại cho ông bà ngoại rồi đưa cả nhà
vào Huế. Đó cũng chính là chuyến đi đầu tiên của Nguyễn
Sinh Cung vào Nam. Chỗ ở của gia đình Bác hồi ấy là nhà
Viện Đô sát ở đường Đoàn Thị Điểm, nay là trường cấp I
Thuận Thành trong Thành Nội. Một tháng sau, ông xin
được một chân thư ký ở trường...
Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th viÖn Quèc gia
ViÖt Nam
Tr×nh Quang Phó
§êng B¸c Hå ®i cøu níc / Tr×nh Quang Phó tuyÓn
chän, b.s. - H. : ChÝnh trÞ Quèc gia, 2015. - 676tr. ; 21cm
1. Hå ChÝ Minh, L·nh tô C¸ch m¹ng, chÝnh trÞ gia,
1890-1969, ViÖt Nam 2. LÞch sö 3. Ho¹t ®éng c¸ch m¹ng
959.704092 - dc23
CTH0317p-CIP
.
4
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng thế giới. Cả cuộc đời và
sự nghiệp của Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng,
vì độc lập và tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Sinh ra và lớn lên ở vùng đất giàu truyền thống cách mạng, sớm
được tiếp thu những tư tưởng yêu nước tiến bộ, Người đã bôn ba
khắp năm châu tìm con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.
Người đã sớm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng và phát triển
sáng tạo học thuyết cách mạng vô sản vào hoàn cảnh cụ thể của đất
nước ta, sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo
cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài
sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân ta, là tấm gương sáng để
nhân dân ta phấn đấu học tập và noi theo. Thực hiện Chỉ thị số
06-CT/TW ngày 7-11-2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tổ
chức Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh và Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp
tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,
trong những năm qua, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức
của Bác đã trở thành một phong trào sâu rộng trong toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân ta, đạt hiệu quả tích cực và đóng góp thiết thực đối
với công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
5
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Cuốn sách Đường Bác Hồ đi cứu nước được GS.TS. Trình Quang
Phú tuyển chọn và biên soạn từ nhiều tác phẩm và bài báo viết về
Chủ tịch Hồ Chí Minh được kết cấu thành hai phần:
Phần I: Đường Bác Hồ đi cứu nước khái quát những sự kiện về
gia đình, tuổi thơ của Bác, con đường Bác bôn ba khắp năm châu
để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường giải phóng
cho dân tộc khỏi ách nô lệ, sáng lập Đảng ta và lãnh đạo nhân dân
ta giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Phần II: Theo Bác đi kháng chiến trình bày những sự kiện chính
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự
lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trong tình thế
"ngàn cân treo sợi tóc" vô cùng khó khăn của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa non trẻ vừa mới được thành lập trước vòng vây của các
nước đế quốc, thực dân và sự chống phá của các thế lực thù địch.
Nội dung cuốn sách gồm nhiều câu chuyện có khi được tác giả kể
lại, có khi được kể lại bởi chính người trong cuộc với những tình cảm
rất chân thành, sâu sắc, những kỷ niệm không thể nào quên, nhờ đó
Bác Hồ của chúng ta thật gần gũi, giản dị và thân thiết như vị Cha già
của dân tộc nhưng cũng là vị lãnh tụ thật lớn lao, vĩ đại khiến cả kẻ
thù phải kính phục. Ngôn từ của cuốn sách giản dị, câu chuyện hấp
dẫn, gần gũi, nội dung sâu sắc, cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá
trị thiết thực để bạn đọc tiếp tục tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và tư
tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong quá trình biên soạn,
với nguồn tư liệu hết sức phong phú viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh,
cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được ý
kiến góp ý của bạn đọc để cuốn sách hoàn thiện hơn.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
6
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
LỜI GIỚI THIỆU
CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
Tác phẩm "Đường Bác Hồ đi cứu nước"
là một công trình sưu tập, biên soạn công phu.
Tôi hoan nghênh Tiến sĩ Trình Quang Phú đã có
nhiều cố gắng tuyển chọn và biên soạn thành
công tác phẩm này.
Mong quyển sách "Đường Bác Hồ đi cứu
nước" sẽ góp thêm với bạn đọc, nhất là các bạn trẻ
những tư liệu quý về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hà Nội, Mùa Thu 2002.
Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP
7
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
8
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
HÀNH TRANG
RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
CỦA BÁC HỒ*
PHẠM VĂN ĐỒNG
H
ồ Chí Minh là người suốt đời phấn đấu vì một lý
tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu
nước (5-6-1911) trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên
cường và bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2-9-1969), đưa
đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với con người Hồ
Chí Minh, là biểu tượng, tấm gương sáng, niềm tự hào
của các thế hệ Việt Nam không ngừng đoàn kết phấn đấu
thực hiện nguyện vọng thiết tha của cộng đồng dân tộc
thời vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh.
Tôi bắt đầu cuốn sách về tư tưởng Hồ Chí Minh bằng
cách đặt câu hỏi Hồ Chí Minh là ai lúc ra đi tìm đường
cứu nước?
__________
* Trích Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ
Chí Minh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1998.
9
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Nhiều người đã viết về đề tài này, ở đây tôi chỉ chú ý
mấy nét để trả lời câu hỏi vừa được nêu lên.
Nói về hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi thì phải
thấy rõ hoàn cảnh gia đình của Hồ Chí Minh, đồng thời phải
thấy quê hương của Hồ Chí Minh là tỉnh Nghệ An, từ đó mà
thấy một cách đậm nét dấu ấn của gia đình, quê hương, Tổ
quốc và dân tộc đối với Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí
Minh sau này. Hồ Chí Minh đặc biệt thích thú và quý trọng
truyền thống xa xưa của dân tộc, thể hiện một cách giàu đẹp
trong lời ăn tiếng nói, trong phong tục tập quán, trong tình
làng nghĩa xóm, việc nước gắn với việc nhà: "Một cây làm
chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao", một câu ca
dao đậm tính trữ tình cũng như khí phách hùng tráng của
dân tộc, đúng là "muôn thuở giang sơn này".
Tôi nhấn mạnh những điểm trên bởi lẽ những giá trị
văn hóa ngày càng ăn sâu vào con người, tư duy và
phong cách của Hồ Chí Minh trong suốt đời hoạt động
của mình trải qua biết bao biến đổi và sóng gió.
Như mọi người đều biết, Hồ Chí Minh sinh trưởng trong
một gia đình trí thức nho giáo, ông bố tuy đậu Phó bảng
nhưng không đi theo con đường làm quan như thói thường
mà luôn luôn ôm ấp tư tưởng về vận mệnh của đất nước, của
dân, chuyên tâm nuôi dạy các con theo chí hướng lớn.
Quê hương của Hồ Chí Minh là tỉnh Nghệ An giàu
truyền thống phấn đấu kiên cường vì sự nghiệp của nước,
của dân. Quê hương bên nội ở làng Sen, bên ngoại ở làng
Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, đã ghi những dấu ấn sâu
sắc trong tâm trí Hồ Chí Minh ngay từ tuổi thơ ấu.
Huế, kinh đô triều Nguyễn lúc bấy giờ, cũng là một
môi trường đã có những ảnh hưởng tốt đẹp đối với tuổi
thiếu niên của Nguyễn Tất Thành.
10
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
Phải nói thêm rằng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã
tận dụng mọi cơ hội để đưa các con đi làm quen với nhiều
nơi trên đất nước ta, đó cũng là cơ hội tiếp xúc với nhiều
nhân vật yêu nước thời bấy giờ.
Tất cả những điều kể trên dần dần đã làm chín muồi
trong tư tưởng và tình cảm của người thanh niên Nguyễn
Tất Thành mong muốn mãnh liệt đi tìm con đường cứu
nước, cứu dân, nhất định không thể sống cuộc đời mất
nước, mất độc lập, tự do. Đó cũng là ý nguyện chung của
toàn thể dân tộc và của mỗi người Việt Nam lúc bấy giờ.
Nhưng đi đâu? Đi hướng nào? Đi tìm cái gì? Đây cũng là
những day dứt, trăn trở trong tâm hồn của người thanh
niên yêu nước tuổi đôi mươi. Lúc nhỏ ở quê nhà cũng như
lúc học ở Huế, Nguyễn Tất Thành biết khá rõ phong trào
Cần Vương, Đông Du, cuộc vận động Đông Kinh Nghĩa
Thục, phong trào khởi nghĩa ở nhiều nơi... Người thanh
niên Nguyễn Tất Thành với sự nhạy cảm và sự sáng suốt lạ
lùng dần dần thấy rõ tất cả những xu hướng cứu nước thời
ấy đều không đem lại và không thể đem lại kết quả mong
muốn. Sự thật ngày nay chứng minh điều đó. Vậy phải đi
tìm con đường khác để tới những chân trời mới. Một điều
rất có ý nghĩa là lúc Nguyễn Tất Thành thấy cụm từ tự do,
bình đẳng, bác ái, thì cậu muốn biết đằng sau nó có cái gì!
Đương nhiên lúc bấy giờ Nguyễn Tất Thành không thể đọc
hoặc được nghe nói về những tư tưởng lớn của phương
Tây. Vậy thì con đường là đi đến phương Tây đầy bí ẩn với
tất cả những triển vọng chưa lường hết được. Sự nghiệp
của Hồ Chí Minh bắt đầu từ đây. Vận mệnh lớn của nước,
của dân gắn bó mật thiết với một quyết định mà lịch sử đã
chứng minh là sáng suốt phi thường.
11
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Từ cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên đường
theo hướng đã định. Chúng ta thử xem hành trang lúc
bấy giờ của Nguyễn Tất Thành có gì? Đó là truyền thống
lịch sử 4.000 năm với sức sống mãnh liệt của một dân tộc,
kiên trì phấn đấu vượt khó khăn gian khổ, bảo toàn và
phát triển bản lĩnh quý báu của mình; truyền thống đoàn
kết đấu tranh dựng nước và giữ nước, không ngừng vun
đắp sức mạnh của cộng đồng, một lòng tương thân tương
ái, cũng như bồi dưỡng nền văn hiến, từ đó mà không
ngừng phát triển bản lĩnh dân tộc, sức sống dân tộc, tình
cảm dân tộc. Cùng với truyền thống tư tưởng và bản sắc
văn hóa Việt Nam, trong hành trang của Nguyễn Tất
Thành lúc rời Việt Nam ra đi còn có những thành quả tư
tưởng của phương Đông, nhất là của hai nền văn hóa lớn
Trung Quốc và Ấn Độ, qua nhiều thế kỷ giao lưu phần
nào đã hội nhập vào văn hóa Việt Nam, và được Nguyễn
Tất Thành tiếp thu qua giáo dục của gia đình, của nhà
trường và cuộc sống xã hội. Đồng thời trong hành trang
này còn phải đặc biệt nhấn mạnh những khát vọng lớn,
những hoài bão lớn của Nguyễn Tất Thành về tương lai
Tổ quốc và dân tộc, là đánh đổ chế độ áp bức, bóc lột thực
dân và phong kiến vươn lên xây dựng đất nước, xây dựng
xã hội, xây dựng con người tự do, hạnh phúc và văn
minh. Toàn bộ hành trang quý báu đó là lẽ sống, là nội
tâm, là niềm tự hào và tự tin, là sức mạnh tinh thần kỳ
diệu của người thanh niên yêu nước trên con đường chưa
thấy bờ bến của mình. Nguyễn Tất Thành rất khôn ngoan
khi chọn cái nghề làm bếp trên tàu để có việc làm và cuộc
sống hàng ngày, đồng thời để có cơ hội chu du thiên hạ,
đi Pháp, đi các nước châu Á, châu Phi, Mỹ latinh, dừng
12
HÀNH TRANG RA ĐI TÌM ...
chân ít lâu tại nước Mỹ và nước Anh để rồi về lại nước
Pháp. Tại đây một cái tên mới xuất hiện.
Nguyễn Ái Quốc gửi bản "Yêu sách của nhân dân An
Nam" đến Tổng thống Mỹ và trưởng đoàn các nước dự
Hội nghị Vécxây. Tôi không thể không trích một đoạn có
ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong bản yêu sách nói trên:
"Từ ngày đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ
thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết
chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc đồng minh
tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của văn
minh chống dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và
chính nghĩa nhất định là phải đến với họ". Tiếp theo câu
nói trên, Nguyễn Ái Quốc đòi các đại biểu dự hội nghị
thừa nhận quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc,
trong đó có dân tộc Việt Nam. Cuộc vận động này của
Nguyễn Ái Quốc có tiếng vang ở châu Âu và gây dư luận
rộng rãi ở Đông Dương, nhất là ở Việt Nam, lúc bấy giờ.
Bức thư gửi Hội nghị quốc tế Vécxây chỉ là một hoạt
động bên lề của Nguyễn Ái Quốc, bởi mục tiêu của Nguyễn
Ái Quốc là tiếp tục đi tìm con đường cứu nước, cứu dân.
Theo hướng này, Nguyễn Ái Quốc có những hoạt động đa
dạng và phong phú ở Pari, tiếp xúc rộng rãi với các đảng phái
chính trị của nước Pháp và các nhóm chính trị khác nhau của
người Việt Nam. Sau cuộc hành trình mấy năm trời qua
nhiều châu lục, Nguyễn Ái Quốc có cơ hội vũ trang cho mình
những hiểu biết mới về các dân tộc bị áp bức ở rất nhiều nơi
trên thế giới, những hiểu biết về các nước tư bản chủ nghĩa
phương Tây: Cái gì ở dưới chân tượng Nữ thần tự do tại Nữu
Ước! Cái gì đằng sau cụm từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái! Đồng
thời Nguyễn Ái Quốc đã có thời gian tìm hiểu và suy nghĩ về
13
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
những tư tưởng lớn của các bậc hiền triết cổ kim Đông Tây,
làm giàu thêm tư duy của mình.
Giờ đây, trở lại hành trang của Hồ Chí Minh lúc ra đi,
tôi thấy cần làm nổi bật biết bao những hiểu biết mới lạ làm
giàu thêm hành trang ấy từ phương Đông sang phương
Tây, từ các dân tộc bị áp bức đến các nước tư bản chủ nghĩa
phát triển nhất, từ các nền văn minh cổ xưa đến các nền văn
minh hiện đại lúc bấy giờ. Một điều nữa tôi phải đặc biệt
nhấn mạnh là những hoài bão, những mong muốn lúc ra đi
đã trải qua một quá trình biến đổi sâu sắc và đó là những
hoài bão mới, những đòi hỏi mới cần được thỏa mãn.
Từ đó chúng ta có thể hình dung được cái quý mà Hồ
Chí Minh đang tìm phải có tầm vóc cao sâu đến mức nào. Lạ
lùng thay, Hồ Chí Minh đã tìm được cái mình mong muốn,
và đây là sự gặp gỡ hầu như có duyên nợ lịch sử. Chính lúc
bấy giờ là lúc Hồ Chí Minh có cơ hội đọc Luận cương của
Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trình bày ở Đại hội lần thứ II
của Quốc tế Cộng sản năm 1920. Sau khi đọc luận cương
này, Nguyễn Ái Quốc đã thốt lên câu nói nổi tiếng: "Đây là
cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng
chúng ta", thể hiện niềm sung sướng không sao diễn tả hết.
Thấy những điều ấp ủ của Nguyễn Tất Thành thì dễ hiểu
được tâm trạng của Nguyễn Ái Quốc khi đọc Luận cương
của Lênin. Luận cương ấy đưa đến việc Nguyễn Ái Quốc
dày công nghiên cứu học thuyết Mác - Lênin, cố gắng tìm ở
đấy cái gì mình thiết tha nhất.
14
PhÇn I
§êng b¸c hå ®i cøu níc
15
16
I
T
heo gia phả họ Nguyễn Sinh ở làng Sen cách
đây 400 năm, ông Nguyễn Bá Phổ - vị khởi
thủy dòng họ Nguyễn Sinh đã đến lập nghiệp ở vùng quê
Kim Liên. Việc đổi chữ lót Nguyễn Sinh thay cho Nguyễn
Bá diễn ra từ thế hệ thứ năm. Cũng là thời kỳ xuất hiện
nhiều nhân tài đỗ đạt trong dòng họ. Đến ông Nguyễn
Sinh Nhậm thì gia cảnh vào loại khá giả trong vùng. Ông
lấy người vợ đầu, sinh được người con trai thì bà mất.
Ông ở vậy nuôi con đến tuổi thành niên, lo vợ cho con
xong ông mới lấy vợ kế, đó là bà Hà Thị Hy và sinh con
trai, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Được ba tuổi thì bà Hy
mất, một năm sau ông Nhậm cũng qua đời. Mồ côi cả cha
lẫn mẹ, Nguyễn Sinh Sắc tới sống với người anh cùng cha
khác mẹ là Nguyễn Sinh Trợ, đang lúc cảnh nhà sa sút.
Nguyễn Sinh Sắc phải đi giữ trâu kiếm sống. Nhiều lần
Sinh Sắc ấm ức không được cùng bạn bè trong làng tới
trường học. Không nhịn được lòng ham muốn, nhiều lần
Sinh Sắc đã buộc trâu để học lén. Sẵn tư chất thông minh,
chỉ nghe lén, học lỏm mà cũng "ra trò". Càng biết ra,
Nguyễn Sinh Sắc càng ham học. Lưng trâu đã thành bàn
học. Cậu mê mải sách quên cả việc đưa trâu đi ăn. Cả làng
ai cũng quý cậu bé ham học. Ông đồ Hoàng Đường từ
làng bên, tức Hoàng Trù thường ghé Nam Liên thăm bạn,
17
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
vốn học cùng khóa với cụ Nguyễn Sinh Nhậm ngày trước,
bao lần bắt gặp Sinh Sắc học trên lưng trâu, ông cũng nghe
nhiều lời khen cậu bé thông minh và ham học nên càng quý
cậu bé hơn.
Tết Nhâm Dần (1878), làng Nam Liên mở hội xuân
nô nức tưng bừng. Tiếng trống thúc, tiếng loa kêu râm
ran náo động lòng người. Trai gái, trẻ già khắp mấy làng
đều háo hức tụ hội vui Xuân. Trên đường đi dự hội, ông
Hoàng Đường lại gặp cậu bé bình thản ngồi lưng trâu đọc
sách nên ông đã đến gặp Nguyễn Sinh Trợ xin đưa
Nguyễn Sinh Sắc về nuôi cho ăn học hẳn hoi.
Chỉ hai năm sau, ông Hoàng Đường cảm thấy học vấn
của cậu học sinh đặc biệt này chẳng thua kém gì mình
mấy. Ông liền gửi Sinh Sắc đi xa 30 cây số tới học ông đồ
giỏi nhất vùng. Đó là thầy đồ Nguyễn Thức Tự vừa nổi
tiếng hay chữ lại là nhà yêu nước nhiệt thành nên được
dân trong vùng rất quý trọng. Như được chắp cánh, ba
năm sau, Sinh Sắc được gọi là một trong hai thần đồng về
văn tài trong xứ.
Sinh Sắc đến tuổi thành niên. Ông Hoàng Đường tính
chuyện kết duyên giữa Sinh Sắc với con gái đầu lòng của
mình là Hoàng Thị Loan. Cô gái cũng như ông bố quý
mến người con trai có tài, có chí lại có đức. Song sự việc
không suôn sẻ ngay vì cụ bà Hoàng Thị Kép cũng như
phía họ hàng bên ngoại không gạt bỏ được ấn tượng cậu
là đứa trẻ mồ côi đi ở đợ. Nay cho sánh duyên với con gái
thầy đồ họ Hoàng thì không môn đăng hộ đối.
18
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Phải qua thời gian để minh định và thuyết phục, năm
1883, ông bà họ Hoàng đã đứng ra tổ chức lễ cưới và dựng
cho đôi vợ chồng trẻ chỗ ở riêng ngay trong vườn nhà. Đó là
căn nhà tranh ba gian ở làng Hoàng Trù quê ngoại.
Năm 1884 ông bà sinh con gái đầu lòng đặt tên là
Nguyễn Thị Thanh. Sau này trong hoạt động chống Pháp,
đồng đội gọi bà là cô Bạch Liên. Bà là một chiến sĩ kiên
trung, bất khuất mà kẻ thù rất nể sợ.
Năm 1888, người con thứ hai ra đời, mang tên là
Nguyễn Sinh Khiêm, sau đổi là Nguyễn Tất Đạt, cũng là
một chiến sĩ yêu nước bị thực dân và Nam Triều nhiều lần
bỏ tù, phát vãng đến quản thúc.
Năm 1890 Nguyễn Sinh Cung chào đời. Đó là Nguyễn
Tất Thành, là Nguyễn Ái Quốc, là Chủ tịch Hồ Chí Minh
của chúng ta.
*
*
*
Sống trong cảnh túng thiếu, nhìn vợ tất bật với hoàn
cảnh khó khăn, nhiều lúc Nguyễn Sinh Sắc muốn lui về
cày ruộng, chung sức cùng vợ nuôi con nhưng mọi
người đều không chịu. Họ hàng nội ngoại nhà bà
Hoàng Thị Loan đều ủy thác ông phải đeo đuổi học tập.
Đến năm 1894 ông đậu Cử nhân trong khoa thi Hương
Giáp Ngọ. Ông chỉ ân hận là đã không đỗ đạt sớm hơn
để kịp báo hiếu công ơn cụ Hoàng Đường đã nuôi dạy
mình từ tuổi lên năm. Cụ đã mất ngày 7 tháng 4 năm
19
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Quý Tỵ (1893), do vậy, niềm vui của ông không trọn
vẹn. Sau buổi ra mắt quan tổng đốc An Tịnh, ông đã
tránh không dự buổi tiệc thịnh soạn đàn ca thâu đêm do
quan tổng đốc khao các vị tân khoa mà lui về nghỉ tại
nhà người bà con cụ Hoàng Đường sống tại tỉnh lỵ.
Sáng hôm sau tân khoa Nguyễn Sinh Sắc cắp mũ áo cử
nhân, đội dù, cuốc bộ về quê, không khoa trương danh
vị, cũng không tổ chức hội mừng mà chỉ làm lễ bái yết ở
nhà thờ, làm bà mẹ vợ bán tín bán nghi về chuyện ông
thi đỗ. Hàng xã thì tấm tắc khen ông cử tài cao mà
khiêm tốn, giản dị.
Năm 1895, ông vào Huế dự kỳ thi Hội nhưng không
đậu. Để tiếp tục học ở Quốc Tử Giám, ông bàn với bà
Hoàng Thị Loan thu xếp cùng vào. Bà đã gửi con gái đầu
lòng ở lại với bà ngoại Hoàng Thị Kép, đưa hai con trai
theo chồng vào Huế. Tại đây gia đình ông cử nhân nghèo
xứ Nghệ sống quá túng thiếu. Cứ hết buổi đi học ông lại
cắp dù đi dạy kèm con cái nhà khá giả. Bà miệt mài với cái
khung cửi, lấy công làm lãi nuôi chồng con. Như bao
nhiêu ông đồ Nghệ khác, họ phải chịu đựng với cảnh
nghèo, nai lưng ra lao động ngày đêm để giữ lấy nếp
thanh khiết, nho nhã.
Cuộc sống lo toan, vất vả nhanh chóng làm bà Hoàng
Thị Loan kiệt sức. Sau khi sinh con thứ tư, bà đau ốm liên
miên, lại là đúng vào thời kỳ ông Sinh Sắc đi chấm thi ở
trường thi Thanh Hóa rồi ghé về quê lo phần mộ cho bố
mẹ. Thấy gia đình quá khó khăn, ông mang Sinh Khiêm
20
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
theo. Ở nhà bà Loan đã từ giã cõi đời vừa lúc bước sang
tuổi ba mươi ba. Bà con láng giềng ở thành Nội đã mai
táng bà ở chân núi Ba Tầng thuộc dãy Ngự Bình. Còn lại
Sinh Cung lo bế ẵm em trai và sống qua ngày trong sự
thương yêu đùm bọc của hàng xóm.
Giữa Tết Tân Sửu (1901) đang ở Hoàng Trù, nhận
được tin dữ, ông Sắc vô cùng đau đớn vội vàng một mình
vào Huế. Sau những ngày đau buồn vĩnh biệt người vợ
thân yêu, ông đưa hai anh em Sinh Cung về quê để nhờ
bên ngoại trông nom giúp rồi trở lại Huế cho kịp kỳ thi
Hội khoa Tân Sửu (1901). Khoa này ông đậu Phó bảng.
Kể từ khoa Tân Sửu, người đậu Phó bảng bắt đầu
được hưởng hai đặc ân của chính bảng: được vua ban cờ
biển và cho vinh quy bái tổ. Trong lễ xướng danh, ông
Nguyễn Sinh Sắc được vua Thành Thái tặng biển "Ân Tứ
Ninh Gia" (Ơn ban cho gia đình tốt) và cấp phương tiện
đưa về đến tỉnh lỵ An Tịnh (Vinh). Tổng đốc An Tịnh lúc
đó là Đào Tấn đã ra lệnh cho lý trưởng các làng thuộc xã
Chung Cự đưa võng lọng cờ trống lên rước ông Phó bảng.
Đây là vinh dự cực kỳ lớn với nho sinh thành đạt, trong
thiên hạ ai không ham.
Nhưng ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - như ngày
nào đậu cử nhân, sau buổi lễ ra mắt Tổng đốc địa hạt, ông
lại tự đi bộ về làng. Về cách Hoàng Trù bốn cây số, gặp
dân xã đang náo nức kéo nhau đi rước ông. Mọi người vội
trống giong cờ mở, giăng võng mời ông nằm lên cho làng
rước. Ông từ tốn thưa: "Thưa bà con, tôi chưa làm được gì
21
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
cho làng cả, sao dám phiền bà con đón rước!". Dù bà con
năn nỉ, ông một mực từ chối. Cuối cùng cả đoàn cùng đi
bộ theo ông Phó bảng trở về làng. Ông ghé về quê ngoại
làm lễ tạ ơn rồi mới sang chào làng bên nội.
Đây cũng là lần đầu tiên Kim Liên có người đỗ đại
khoa. Tục lệ ngày đó đã đỗ đại khoa mà đi ở rể là không
được. Dân làng mới cắt một miếng đất năm sào Trung Bộ,
dựng hàng rào và trích tiền công của làng mua một ngôi
nhà tranh bên Xuân La. Dân làng cùng nhau khiêng về
dựng làm chỗ ở cho ông Phó bảng. Bố con ông quay về
quê nội, sống trong căn nhà lá ba gian đó.
Ngôi nhà này không còn giữ được đến ngày nước nhà
độc lập, sau này đã được chuộc lại và đem về dựng trên
nền nhà cũ, theo khuôn mẫu ngôi nhà xưa. Hôm về thăm
làng Sen lần đầu (1957), Bác đã phát hiện ra lối vào nhà đã
mở sai hướng, Bác đã chỉ cho những người cùng đi:
- Lối đi ngày trước ở bên này! Xưa cha tôi trồng một
bên là hàng cây mạn hảo, một bên là hàng cây râm bụt.
Sau đó, địa phương đã mở lại cổng, làm lại hàng rào
và lối đi hiện nay đã đúng như sự hướng dẫn của Bác.
Gian đầu có bàn thờ với biển phong tặng "Ân Tứ Ninh
Gia" của nhà vua khi ông Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng
và lá cờ của dân làng tặng, đề bốn chữ "Phó bảng Phát
Khoa". Sau khi cụ Sinh Sắc qua đời, dòng họ Nguyễn Sinh
đưa lá cờ này vào nhà thờ họ. Năm 1957 Bác về thăm quê
có ghé vào nhà thờ, Bác vui mừng nói:
22
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
- Lá cờ làng tặng cha tôi vẫn còn! Các ông giữ tài thật.
Bác vào gian cuối gần bếp - ở đây đặt một bộ ván bốn
tấm ghép lại. Chiếc bàn con kê sát cửa sổ và chiếc võng
đay đã cũ treo chéo hai cột. Cái sập đựng lúa và tủ chè kê
sát vách. Cây cột gần đó có treo cây đèn đĩa. Sát đấy là cái
án thư bằng tre. Nhìn bộ ván, Bác bảo:
- So với trước, bộ ván này bị cưa ngắn đi rồi.
Hai lần về thăm quê, lần nào Bác cũng lẳng lặng đi lên
đi xuống ba gian nhà lá. Quá khứ, những kỷ niệm thân
thương đang làm Bác bồn chồn. Những người có mặt lúc
đó cũng chìm lắng trong tâm trạng của Bác. Kỷ vật như
thiêng liêng hơn. Tất cả không còn là tre, là gỗ, là vật
dụng mà là bóng dáng của cả một gia đình, mọi cái thấm
đượm tâm hồn, tình cảm gắn bó ruột thịt với Bác, làm xúc
động lòng người.
Bác đó, ông già giản dị như mọi người già, gần gũi
như mọi bậc ông, bậc cha, thân mật chuyện trò việc làng
việc nước, những nỗi quan tâm của mọi gia đình. Vị Chủ
tịch nước đã hóa thân thành một người làng thân thiết của
cả già, trẻ, gái, trai.
Bác đó, đang nhắc lại từng kỷ niệm thời thơ ấu với
bạn bè.
Bác đó, niềm tin, lòng hy vọng của mỗi người, của
mọi người, của bạn bè gần xa. Bằng giọng làng Sen thân
thuộc, Bác nói:
- Tôi xa quê hương, xa các cụ, các mẹ, các chú như vậy là
đã năm mươi ba năm. Thường tình đi xa như vậy khi trở về,
23
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
người ta hay mừng mừng tủi tủi. Riêng tôi thì không tủi mà
chỉ mừng. Vì khi tôi ra đi, nước ta đang bị thực dân cai trị,
đồng bào ta đều là những người nô lệ. Nay tôi trở về thì đồng
bào đã là những công dân tự do làm chủ nước nhà.
Quê hương nghĩa nặng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình.
*
*
*
Bác ra đời ở làng Hoàng Trù, lên năm tuổi đã phải
theo bố mẹ cùng anh trai vào Huế. Đến ngày mẹ qua đời,
Bác mười một tuổi theo cha trở về quê và sống tuổi thiếu
niên tại làng Sen được 5 năm.
Ông Sắc sau khi đỗ Phó bảng đã lấy cớ cần chữa bệnh
để chậm nhậm chức, nấn ná lại quê được 5 năm (1901 1906). Ông rất quan tâm đến việc học của con cái. Ông cho
con trai tới học với cử nhân Vương Thúc Quý - con ông tú
tài Vương Thúc Mậu, lãnh tụ Cần Vương chống Pháp ở
vùng núi Chung.
Ông đã từng viết lên xà nhà mấy chữ: "Vật dĩ quan gia,
vi ngô phong dạng" (Đừng lấy phong cách nhà quan làm
phong cách nhà mình), để răn dạy con.
Là một đại khoa, nhưng làm quan với ông là đem
thân làm nô lệ.
Còn được lưu lại quê, ông Sinh Sắc không để lỡ dịp.
Ông đi Võ Liệt theo lời mời của nhân dân trên đó lên mở
trường, dạy học và ông luôn nhắc: Việc học là cần để hiểu
đạo lý làm người. Không nên chỉ học để làm quan.
24
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Sau đó ông chuyển sang dạy ở Đức Thọ (Hà Tĩnh),
đến làng Đông Thái, quê hương của cụ Phan Đình Phùng,
tiếp xúc với các nhân sĩ yêu nước của vùng Hà Tĩnh... Ông
ra Diễn Châu thăm Tán tương quân vụ trong cuộc khởi
nghĩa của cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn, đi Yên Thành,
Quỳnh Lưu và ra tận Thái Bình tiếp xúc với sĩ phu Bắc
Hà. Ông Sắc là bạn thân của Phan Bội Châu, cùng là sĩ
phu yêu nước chống Pháp nhưng ông Sắc không hưởng
ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu.
Trong gia đình, Nguyễn Sinh Cung là người được bố
đặt nhiều hy vọng. Khi đi đây đi đó, bố thường cho cậu đi
cùng. Nhờ vậy cậu có mặt trong các cuộc đàm đạo của bố,
mọi lời nói, việc làm, cử chỉ của các bậc sĩ phu yêu nước
đều tác động mạnh tới cậu.
Bà Anna Luidơ Stenson có kể lại trong một lần gặp
Bác, Bác có kể chuyện với bà:
"Hồi ấy các cụ nhà nho yêu nước, trong đó có thân sinh tôi
thường hỏi nhau:
- Ai cứu nước ta bây giờ?
Có người nói Nhật. Có người nói Anh, có người nói Mỹ,
khi đó Nhật là nước mạnh ở châu Á, còn Anh, Mỹ đều là cách
mạng dân quyền. Còn tôi...".
Những chuyến đi đây đó và những cuộc gặp gỡ mà
ông Phó bảng thường mang Nguyễn Sinh Cung đi theo đã
đưa Bác vào thời cuộc. Tuổi mười bốn, mười lăm Nguyễn
Sinh Cung chứng kiến rất nhiều cảnh sống đầy đọa của
nhân dân. Mạng sống con người bị bọn thống trị coi như
25
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
sâu bọ. Phu phen tạp dịch tàn phá từng gia đình, từng
làng xóm, gieo tang tóc, ly tán khắp nơi. Ảnh hưởng tư
tưởng của cha, kết hợp sự nhạy cảm chính trị của bản
thân, Nguyễn Sinh Cung đã từ chối con đường Đông Du
ngay khi cụ Phan Bội Châu muốn đưa cậu sang Nhật Bản
hồi tháng 7-1905.
Khi nghe ở nước Pháp đang rộ lên ba mục tiêu của
cuộc cách mạng tư sản Pháp (Tự do - Bình đẳng - Bác ái),
Bác suy nghĩ nhiều và muốn biết rõ bản chất vấn đề.
Những điều Bác thấy bọn thực dân đang làm hàng ngày
thì hoàn toàn ngược lại. Sự mâu thuẫn đó thôi thúc Bác
muốn tiếp xúc với nền văn minh Pháp để khám phá ra
sự thật. Trên tạp chí Ngọn lửa nhỏ (Liên Xô) số 39 ngày
23-12-1923, nhà thơ O.E.Mandelstam trong bài báo "Đến
thăm chiến sĩ quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc" đã ghi
lại lời Bác nói với ông như sau: "Vào trạc tuổi 13, lần đầu
tiên, tôi được nghe những từ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.
Thế là tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, tìm xem
những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy... Tôi quyết định ra đi
từ năm 19 tuổi...".
*
*
*
Một làng quê như mọi làng quê của đất Lam Hồng,
không khang trang, không trù phú, di tích Kim Liên gắn
chặt với đời thường như dân làng Kim Liên.
26
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Con đường vào nhà quê nội ở làng Sen bốn mùa điểm
hoa râm bụt như chào mừng khách thập phương. Cây ổi đỏ
ruột cao hơn hai thước rẽ ba, sà xuống sân nhà chan hòa cùng
bưởi, thanh trà như trang trí cảnh đón khách. Mấy khóm huệ,
vài khóm cúc, lay ơn đung đưa trước gió tỏa hương sắc.
Phía sau là hàng cau thon thả tỏa tán lá tròn xoe trải
dài trên con đường như tươi xanh. Từ khóm tre, khóm si
quanh vườn rộn ràng tiếng hót của chào mào, vành
khuyên, chích chòe. Lại tiếng gà mẹ tục tục gọi con, tiếng
thập thình chày giã gạo. Và những mái rơm ẩn hiện
những sợi khói lam mảnh mai, quyến luyến trên ngôi nhà
bảo tàng thiêng liêng. Thật là đặc biệt! Một nhà sử học
người Anh đã thú vị ghi lại: "Đến Kim Liên tôi càng thấy
lạ hơn. Tôi chưa từng thấy một nhà bảo tàng nào lại được
nghe tiếng gà gáy, tiếng chim ca, được thấy trẻ em đi học
chật đường...". Ông mệnh danh đây là loại bảo tàng mới:
Bảo tàng mở với đời sống, khác với khái niệm bảo tàng
xưa nay là di tích, dư âm của đời sống đã trôi qua được
giữ lại. Bảo tàng Kim Liên chan hòa với hiện tại, không
cách biệt với cuộc sống đang diễn ra hàng giờ, cũng như
mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: "Tôi
chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho đất
nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng
bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành"*. Hoài
__________
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2011, t.15, tr.627.
27
ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
bão của Bác đích thực là hoài bão của mỗi người dân, của
mỗi con người Việt Nam bình thường.
Cụm di tích Kim Liên hiện nay mở rộng đến ngọn Động
Tranh Thấp trên núi Đại Huệ ở độ cao 100m. Năm 1983,
Khu mộ bà Hoàng Thị Loan đã được xây khang trang ở đó.
Bà Hoàng Thị Loan mất năm 1901 tại Huế. Thi hài
được táng ở chân núi Ba Tầng bên dòng sông Hương.
Năm 1922, cô Nguyễn Thị Thanh con gái của bà, một
chiến sĩ yêu nước chống thực dân Pháp bị cầm tù ở Quảng
Ngãi được đưa ra an trí ở Huế. Đến ngày được thả, cô đã
tìm cách đưa hài cốt của mẹ về quê yên nghỉ ngay trong
khu vườn nhà. Đến năm 1942, người con trai lớn Nguyễn
Sinh Khiêm, sau khi thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về
quê đã đi tìm nơi cát táng cho mẹ. Đó là vị trí Động Tranh
(trong dãy Đại Huệ) hiện nay.
Từ Động Tranh nhìn về phía nam là cả dãy Thiên
Nhẫn ngàn đỉnh trùng trùng. Ở đó còn dấu tích thành
Lục Niên Lê Lợi dựng năm 1424 trong cuộc kháng
chiến chống quân Minh xâm lược; có miếu thờ La sơn
Phu tử Nguyễn Thiếp đệ nhất danh sĩ thời Tây Sơn ở
núi Bùi Phong.
Phía bên này sông Lam là núi Dũng Quyết, một tiền đồn
của quân nhà Trịnh, có thành Phượng Hoàng Trung Đô thời
vua Quang Trung.
Nhìn về phía tây là núi Đụn (Hùng Sơn) như bức bình
phong án ngữ, còn dấu tích thành Vạn ao do Mai Thúc
Loan xây cất từ năm 722 chống quân xâm lược nhà Đường.
28
Phần I: ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC
Nhìn về phía tây bắc là bạt ngàn dãy núi Đại Vạc, Đại
Huệ nơi có thành quách Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương
chống quân xâm lược phương Bắc.
Xa xa, phía đông nam là núi Lam Thành, nơi
Nguyễn Biểu, một danh thần Hậu Trần đã chứng minh
khí phách dân Nam trước trướng xâm lược phương Bắc.
Gần hơn là dãy Độc Lôi, Đại Hải, ở đó có mộ tổ Quang
Trung - Nguyễn Huệ.
II
N
ăm 1896, cụ thân sinh của Nguyễn Sinh Cung đậu
cử nhân và được vào học ở trường Quốc Tử Giám.
Cụ gửi người con gái lớn lại cho ông bà ngoại rồi đưa cả nhà
vào Huế. Đó cũng chính là chuyến đi đầu tiên của Nguyễn
Sinh Cung vào Nam. Chỗ ở của gia đình Bác hồi ấy là nhà
Viện Đô sát ở đường Đoàn Thị Điểm, nay là trường cấp I
Thuận Thành trong Thành Nội. Một tháng sau, ông xin
được một chân thư ký ở trường...
 





